24 Phạm Hồng Thái, Tp Hải Dương 0913.073.888
24 Phạm Hồng Thái, Tp Hải Dương 0913.073.888
Đàn Tứ là một nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam. Đàn có tên Đàn Tứ vì có bốn dây (Tứ là Bốn). Tuy nhiên đàn còn nhiều tên gọi khác như Đàn Đoản (Đoản là Ngắn, bởi cần đàn ngắn hơn Đàn Nguyệt), Đàn Nhật (Nhật là Mặt Trời) vì thùng đàn hình tròn như Mặt Trời nên tạo thành một đôi với Đàn Nguyệt (Nguyệt là Mặt Trăng).
Đàn Tứ có 2 loại:
1. Đàn Tứ Thùng (loại mới)
2. Đàn Tứ Tròn (Đàn Đoản – loại cổ truyền).
Đàn Tứ có những bộ phận chính như sau:
- Bầu vang (bộ phận tăng âm): hình hộp tròn, dẹt như đàn Nguyệt. Đường kính mặt đàn và hậu đàn bằng nhau, khoảng 35 cm. Thành bầu xấp xỉ 7 cm (thành bầu vang của các loại tương tự của người dân tộc mỏng hơn).
- Mặt đàn: Bằng gỗ để mộc. Trên mặt đàn, ở phần dưới có bộ phận móc dây, còn được coi là ngựa đàn.
- Cần đàn: Bằng gỗ cứng, ngắn và to bản. Các phím đàn hơi cao, có khoảng hơi đều nhau trên suốt cần đàn và mặt đàn.
- Đầu đàn: Có 4 trục mắc dây, mỗi bên 2 trục.
- Dây đàn: Tuy có 4 trục mắc dây nhưng gần đây chỉ sử dụng có 2 trục (để móc 2 dây trên mỗi trục). Trước đây dây đàn làm bằng tơ se, ngày nay thường dùng dây nilon.
Đàn Tứ có âm vực rộng 2 quãng tám. Loại Đàn Tứ cổ truyền có 4 dây (2 dây to đồng âm, 2 dây nhỏ đồng âm) nên ngày nay các nghệ nhân chỉ mắc dây trên 2 trục. Tuy nhiên có người lại gắn 4 dây với 4 âm khác nhau theo kiểu đàn Mandoline. Đây là sự cách tân đáng chú ý.
Đàn Tứ Thùng là cây đàn cải tiến mới xuất hiện khoảng 40 năm nay ở Việt Nam. Đàn được tạo dáng với thùng đàn hình thang như đàn đáy và gắn bốn dây nilon. Nhìn chúng các dây đàn được chỉnh khá căng trên hàng phím tương đối cao, thích hợp để sử dụng ngón vê. Cần đàn được gắn phím theo hệ thống 12 bán âm như hệ thống thang âm Tây phương. Vì lẽ đó Đàn Tứ Thùng rất thuận tiện trong việc trình tấu những sáng tác lấy chất liệu từ âm nhạc dân gian, truyền thống nhưng lại mang phong cách âm nhạc hiện đại.
Đàn Tứ có âm sắc tươi sáng, thích hợp để diễn tả những giai điệu sôi nổi, mạnh mẽ. Tuy nhiên nên dùng dây tô hay dây nilon, Đàn Tứ có khả năng diễn đạt tính chất trữ tình.
Đàn Tứ có 10 phím, gắn theo hệ thống thất cung chia đều (không có những quảng nửa cung), nghĩa là không hoàn toàn giống hệ thống thất cung của phương Tây. Trong lúc diễn nghệ sĩ dùng cách nhấn dây để tạo âm thanh thích hợp với các loại bài bản.
Khi biểu diễn, tay phải sử dụng những kỹ thuật chính như ngón vê, ngón phi, còn tay trái thường dùng ngón vuốt, ngón nhấn, ngón luyến và đánh chồng âm (tương tự đàn tỳ bà).
Đàn Tứ thường xuyên xuất hiện trong một số ban nhạc cổ truyền như cải lương hoặc hát bội (bộ). Nhiệm vụ chính của Đàn Tứ là hòa tấu.